Chi tiết bài viết

  • TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ- BÀO CHỮA Cho bị cáo trước Toà án các cấp

  • Lượt xem: 5542

Luật sư bào chữa cho bị can, bị cáo trong vụ án hình sự

+  Luật sư tư vấn pháp luật hình sự, luật tố tụng hình sự và các vấn đề liên quan trực tiếp tại văn phòng trước khi thực hiện dịch vụ tố tụng. 

1. Nội dung dịch vụ luật sư tham gia tố tụng bào chữa cho bị can, bị cáo trong vụ án hình sự.
 

-    Luật sư tham gia từ giai đoạn khởi tố, điều tra: 
 

Trong giai đoạn tiếp cận hồ sơ vụ án và tham gia từ giai đoạn khởi tố, điều tra luật sư thực hiện nhiệm vụ theo quy định pháp luật, cụ thể:
 

+   Luật sư tư vấn các quy định pháp luật hình sự và các văn bản pháp luật liên quan, dự cung; kịp thời khiếu nại, kiến nghị trong quá trình điều tra
 

+    Luật sư tư vấn quy định pháp luật về tội phạm và các nội dung khác liên quan đến tội phạm (tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng); tư vấn quy định về Đồng phạm, che giấu tội phạm và không tố giác tội phạm…
 

+   Luật sư tư vấn quy định pháp luật về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự, tư vấn những trường hợp không áp dụng miễn truy cứu trách nhiệm hình sự.
 

+  Luật sư tư vấn qui định pháp luật hình sự về hình phạt, các hình phạt cụ thể và các nội dung khác liên quan đến hình phạt, tư vấn quy định pháp luật hình sự về quyết định hình phạt và vấn đề liên quan.
 

-    Luật sư tham gia bào chữa tại phiên tòa để bảo vệ quyền lợi cho bị cáo.
 

2.  Quy trình thực hiện của luật sư tham gia tố tụng bào chữa cho bị can, bị cáo trong vụ án hình sự được tiến hành theo các bước như sau:
 

Bước 1: Tiếp nhận thông tin và hồ sơ vụ việc (Quyết định khởi tố bị can, vụ án, giấy tờ liên quan…) từ bị can, bị cáo, người thân, người đại diện khác của bị can, bị cáo.
 

Bước 2: Xác định về điều kiện, thẩm quyền giải quyết, thời gian thực hiện và phân công luật sư tham gia tố tụng.
 

Bước 3: Thu thập chứng cứ, tài liệu và các điều kiện chứng minh khác theo quy định pháp luật nhằm phục vụ công tác tham gia tố tụng bào chữa cho bị can, bị cáo của luật sư.
 

Bước 4: Hoàn thiện hồ sơ tham gia tố tụng gửi các cơ quan tiến hành tố tụng và triển khai nghiên cứu hồ sơ vụ án.
 

Bước 5. Luật sư tham gia tố tụng tại cơ quan tiến hành tố tụng theo nhiệm vụ đã phân công nhằm bào chữa cho bị can, bị cáo trong vụ án hình sự.


                                                    HỖ TRỢ VÀ TƯ VẤN MIỄN PHÍ

                               Dc: 1014/73 Tân Kỳ Tân Quý, P. Bình Hưng Hòa, Q.Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh

                                          Liên hệ: 0966 456 678 - 0866 789 112

 

 

Bài viết liên quan đến bào chữa:

Sửa luật để đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo 

 

 

Ngày hôm nay (23/9 ), Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng xử phúc thẩm vụ án cố ý tông xe làm chết người tại Khánh Hòa. Xoay quanh vụ án này còn nhiều điều khiến luật sư trăn trở.
Ảnh một phiên tòa ở Thanh Hóa. (Ảnh chỉ có tính chất minh họa)

Ảnh một phiên tòa ở Thanh Hóa. (Ảnh chỉ có tính chất minh họa)

 

Trước đó, án sơ thẩm đã tuyên xử phạt bị cáo Nguyễn Bình Tuy 18 năm tù về tội “Giết người “ theo  điểm n, khoản 1 điều 93 BLHS, mặc dù  bị cáo chỉ  truy tố  theo khoản 2 Điều 93 BLHS. Đây là vụ án dư luận quan tâm, liên quan đến thủ tục tố tụng về giới hạn xét xử của tòa án, đặc biệt là quyền bào chữa bị cáo có được đảm bảo nếu Tòa án xử bị cáo ở khung hình phạt cao nhất (tử hình).
 
Dùng ôtô đâm chết người
 
Khoảng 19 giờ ngày 8-8-2012, do có mâu thuẫn từ trước, Nguyễn Bình Tuy (Sinh năm 1983) đã  điều khiển xe  ô tô tải BKS 79D- 6194  đâm  vào  xe mô tô biển kiểm soát 79N1- 235.51 do ông Huỳnh Văn Bạc (sinh năm 1960, trú tại xã Vĩnh Ngọc –Nha Trang) điều khiển, hậu quả ông Bạc tử vong.
 
Ngay sau đó, Cơ quan CSĐT công an tỉnh đã quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam bị can Nguyễn Bình Tuy về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 93 BLHS. Các quyết định tố tụng của cơ quan điều tra đều được VKSND tỉnh phê chuẩn. Ngày  2/1/2013, VKSND tỉnh có cáo trạng, đề nghị Tòa án tỉnh xét xử bị cáo Tuy về tội “giết người” theo khoản 2 Điều 93 BLHS (khung hình phạt từ bảy năm tù đến 15 năm tù).
 
Trong giai đoạn điều tra, truy tố, bị cáo Tuy không yêu cầu luật sư bào chữa và bị cáo không bị truy tố theo khoản 1 điều 93 BLHS, nên cũng không  thuộc trường hợp bắt buộc có luật sư bào chữa cho bị cáo trong các giai đoạn điều tra, truy tố .
 
Quyền bào chữa và giới hạn xét xử của tòa án
 
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, thẩm phán được phân công giải quyết vụ án nhận thấy hành vi giết người của bị cáo Tuy có tính chất côn đồ, là dấu hiệu định khung tăng nặng được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 93 BLHS (khung hình phạt từ 12 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình). Do đó, ngày 1/3/2013, thẩm phán đã ra quyết định trả hồ sơ, yêu cầu VKS truy tố Tuy theo khoản 1 Điều 93 BLHS, đồng thời tiến hành việc hỏi cung bị can với sự tham gia của người bào chữa .
 
Thế nhưng,VKSND tỉnh cho rằng việc tòa yêu cầu truy tố Tuy theo khoản 1 Điều 93 BLHS là không có căn cứ. Ngày 1/3/2013 ,VKSND tỉnh  có văn bản trả lời tòa án,giữ nguyên quan điểm truy tố và chuyển lại hồ sơ, yêu cầu  tòa  án đưa vụ án ra xét xử. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, gia đình bị cáo đã yêu cầu luật sư Lục Thị Thụy ( Đoàn Luật sư Khánh Hòa ) bào chữa cho bị cáo và đã được Tòa án chấp nhận.
 
Ngày 23/4/2013, TAND tỉnh  đã  tiến hành xét xử  sơ thẩm vụ án này. Một lần nữa, Hội đồng xét xử nhận định hành vi của bị cáo là côn đồ, cần phải truy tố, xét xử ở khoản 1điểm n Điều 93 BLHS. Do đó, sau khi kết thúc phần tranh luận, HĐXX không tuyên án mà tiếp tục quyết định  trả  hồ sơ, yêu cầu VKS truy tố theo điểm n khoản 1 Điều 93 BLHS, yêu cầu tiến hành hỏi cung bị cáo phải có sự tham gia của người bào chữa.
 
Ngay sau đó, ngày 24/4/2013, VKSND tỉnh có công văn trả lời, giữ nguyên quyết định truy tố Nguyễn Bình Tuy theo cáo trạng ngày 2/1/2013. 
 
Tòa án tỉnh Khánh Hòa tiếp tục quyết định đưa vụ án ra xét xử vào ngày 12/6/2013. Nội dung quyết định xét xử nêu rõ: Bị cáo bị VKSND tỉnh  truy tố về tội Giết người theo khoản 2, điều 93 BLHS, tuy nhiên có thể  bị Tòa án xét xử  ở khoản 1 Điều 93 BLHS.
 
Tại phiên phiên tòa ,đại diện VKS giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị xử phạt bị cáo Tuy  từ 12- 14 năm tù theo khoản 2 Điều 93 BLHS. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử đã tuyên bố bị cáo Tuy phạm tội “ Giết người” với tình tiết côn đồ  theo  theo điểm n khoản 1 Điều 93 BLHS, xử phạt xử phạt bị cáo 18 năm tù .
 
Sau đó, bị cáo Tuy có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng đã tiếp tục yêu cầu Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa  chỉ định luật sư bào chữa cho bị cáo trrong phiên tòa phúc thẩm vào ngày 23/9/2013.
 
Vấn đề đặt ra để trao đổi  trong bài viết này liên quan đến quyền bào chữa và giới hạn xét xử của tòa án. Đó là trường hợp cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không yêu cầu cử người bào chữa vì bị can bị truy tố về tội mà khung hình phạt không phải là tử hình, nhưng khi xét xử Tòa án thấy hành vi của bị cáo thuộc khung hình phạt có tử hình. Tòa án đã xét xử bị cáo theo khoản nặng hơn có khung hình phạt tử hình như vụ án  nêu trên có vi phạm quyền bào chữa của bị cáo hay không? 
 
Quan điểm của ông Đinh Văn Quế (nguyên Chánh Tòa Hình sự - TANDTC ) cũng như một số thẩm phán cho rằng: “Tòa cứ  xử  và không cần trả hồ sơ” vì Điều 196  BLTTHS cho  phép Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS truy tố trong cùng một điều luật nghĩa là có thể xét xử theo hướng nặng hơn.
 
VKS truy tố bị cáo theo khoản 2 Điều 93 (tội giết  người ) có khung hình phạt là tù từ  7 năm  đến 15 năm. Án sơ thẩm đã  xử phạt bị cáo 18 năm tù theo  điểm n khoản 1 điều 93 BLHS, là không vượt quá giới hạn xét xử và không xâm phạm quyền bào chữa của bị cáo.
 
Qua vụ  án cụ thể này có thể nhận thấy: Pháp luật tố tụng hình sự hiện hành và thực tiễn xét xử đã cho phép tòa án xét xử nặng hơn đề nghị của VKS và không phân biệt khoản đó có khung hình phạt đến tử hình hay không . Tuy nhiên trong bối  cảnh Hiến pháp 1992 đang được xin ý kiến sửa đổi và Bộ Luật tố tụng hình sự 2003 đang trong quá trình được tổng kết sửa đổi,bổ sung. Tôi cho rằng việc áp dụng điều 196 BLTTHS  như trên vô hình trung  đã tước bỏ quyền  bào chữa của bị cáo.
 
Theo tôi, quyền bào chữa của bị cáo phải được đảm bảo trong suốt quá trình tố tụng chứ không chỉ  được áp dụng ở tại phiên tòa. Nếu theo dõi diễn biến phiên tòa công khai,  chúng ta chỉ thấy  đại diện VKS  đọc  quyết định  truy tố  và luận tội theo khoản 2 điều 93 BLHS.
 
Luật sư và bị cáo cũng chỉ  được  bào chữa theo trong phạm vi khoản 2 điều 93 BLHS, mặc dù quyết định đưa vụ án ra xét xử  có ghi “ bị cáo có thể xét xử bị cáo ở khoản 1 “ ?! Và ,việc  xét xử  có  áp dụng khoản 1, điều 93 nặng hơn đề nghị của VKS hay không chỉ được  biểu quyết  “kín” giữa  các thành viên Hội đồng xét xử  trong phòng nghị án .
 
Ở đó, hoàn toàn  không  có tranh luận của bên buộc tội và người bào chữa , của bị cáo về nội dung này. Thực tế, chỉ đến khi Hội đồng xét xử tuyên án thì  VKS và những người tham gia tố tụng mới  được biết Tòa án đã  bị  xét xử theo khoản 1 Điều 93BLHS .
 
 Xử như vậy, làm sao có thể nói quyền bào chữa của bị cáo đã được đảm bảo ? Mặt khác, việc Tòa án  hai lần quyết định trả hồ sơ, yêu cầu VKS  phải truy tố  bị cáo theo  khoản 1 điều 93 BLHS, làm cho người  tham gia tố tụng có thể  dự đoán được kết quả xét xử là Tòa sẽ tuyên xử buộc bị cáo ở khoản 1, nặng hơn đề nghị của bên buộc tội. Như vậy,việc tranh tụng  giữa  kiểm sát viên và luật sư tại phiên tòa chẳng qua  là hình thức ?
 
Thiết nghĩ, Tòa án thực hiện việc xét xử đúng giới hạn, nhưng vẫn phải đảm bảo quyền bào chữa của bị can bị cáo trong trường hợp quan điểm của Viện và Tòa bất đồng như vụ án trên. Theo tôi, cần sửa đổi luật tố tụng hình sự theo hướng: Bảo đảm có người bào chữa cho bị can ngay từ khi  bị khởi tố về tội có khung hình phạt là tử hình mà không phụ thuộc quyết định khởi tố bị can ở khoản không có khung hình phạt  tử hình.

 BÀI VIẾT 2:

 

Quốc hội thông qua Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi)

 

  |  
 

 

 


Với 85,63% số đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), sáng 27-11. (Ảnh: TRẦN HẢI)


 

NDĐT- Sáng 27-11, với 423 đại biểu tán thành, hai đại biểu không tán thành trên tổng số 425 đại biểu tham gia, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi).

 

Bộ luật Tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và một số thủ tục thi hành án hình sự; nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức và cá nhân; hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự.

Một trong những nội dung đáng chú ý của Bộ luật Tố tụng hình sự là bắt buộc ghi âm, ghi hình hoạt động hỏi cung bị can (Điều 183). Theo Báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến các đại biểu Quốc hội về dự án Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nêu rõ: Nhiều ý kiến đại biểu Quốc hội tán thành với phạm vi bắt buộc ghi âm, ghi hình hoạt động hỏi cung như dự thảo. Trong khi có nhiều ý kiến đại biểu Quốc hội không tán thành với phạm vi bắt buộc ghi âm, ghi hình hoạt động hỏi cung như dự thảo, đề nghị thu hẹp hơn, chỉ áp dụng trong các trường hợp hỏi cung bị can về tội đặc biệt nghiêm trọng, bị can kêu oan, không nhận tội hoặc đối với vụ án phức tạp mà dư luận quan tâm để bảo đảm tính khả thi, tránh lãng phí.

Do ý kiến của đại biểu Quốc hội còn khác nhau, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã lấy phiếu xin ý kiến các đại biểu Quốc hội. Kết quả như sau: có 45,95% ý kiến đại biểu trên tổng số đại biểu tán thành với phạm vi bắt buộc ghi âm, ghi hình hoạt động hỏi cung như dự thảo; có 34% ý kiến đại biểu Quốc hội trên tổng số đại biểu Quốc hội đề nghị chỉ bắt buộc ghi âm, ghi hình hoạt động hỏi cung bị can trong trường hợp bị can về tội đặc biệt nghiêm trọng, bị can kêu oan, không nhận tội hoặc đối với vụ án phức tạp mà dư luận quan tâm.

Về vấn đề này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy, việc ghi âm, ghi hình hoạt động hỏi cung nhằm bảo đảm minh bạch quá trình hỏi cung, bảo vệ bị can, chống bức cung, dùng nhục hình, bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo yêu cầu Hiến pháp; đồng thời bảo vệ người hỏi cung, tránh bị vu cáo là cần thiết. Để bảo đảm tính khả thi, hiệu quả, tránh lãng phí, phù hợp với điều kiện nước ta, dự thảo luật quy định việc hỏi cung bị can tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở Cơ quan điều tra phải được ghi âm, ghi hình là phù hợp; còn tại các địa điểm tiến hành điều tra khác thì chỉ ghi âm hoặc ghi hình theo yêu cầu của bị can, của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Tiếp thu đa số ý kiến đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị giữ quy định về phạm vi bắt buộc phải ghi âm hoặc ghi hình.

Tuy nhiên, để thực hiện quy định này cần có hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền về trình tự, thủ tục việc bảo quản, sử dụng, lưu trữ kết quả ghi âm, ghi hình việc hỏi cung trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Đồng thời do phải có thời gian để đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất, đào tạo đội ngũ cán bộ thì cần có lộ trình thực hiện việc ghi âm, ghi hình. Vì vậy, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã đề nghị trong Nghị quyết của Quốc hội về thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) cần có ba nội dung. Cụ thể, giao cho Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết trình tự, thủ tục việc thực hiện, sử dụng, bảo quản, lưu trữ kết quả ghi âm, ghi hình việc hỏi cung trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Theo đó, Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ trưởng Bộ Tài chính và Bộ trưởng Bộ Nội vụ xây dựng đề án về cơ sở vật chất, bộ máy, cán bộ và lộ trình thực hiện việc ghi âm, ghi hình hoạt động hỏi cung bị can theo quy định của Bộ luật này. Giao Bộ trưởng Bộ Công an quy định cụ thể nơi có điều kiện để thực hiện việc ghi âm, ghi hình hoạt động hỏi cung kể từ ngày 1-1-2017. Chậm nhất đến 1-1-2019 thì thực hiện thống nhất việc ghi âm, ghi hình hoạt động hỏi cung bị can trên phạm vi toàn quốc.

Về quyền khai báo, trình bày ý kiến của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo (các Điều 58, 59, 60 và Điều 61). Đa số đại biểu Quốc hội đề nghị giữ quy định của dự thảo về người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền “Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội” như Dự thảo. Bên cạnh đó, một số ý kiến đề nghị giữ như quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành là người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền “trình bày lời khai, trình bày ý kiến”.

Theo giải trình của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì việc quy định rõ hơn quyền khai báo, trình bày ý kiến của người bị buộc tội như quy định tại Điểm g Khoản 3 Điều 14 của Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966 mà Việt Nam tham gia năm 1982 là cần thiết. Vì vậy, tiếp thu đa số ý kiến đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị giữ quy định này như tại các Điều 58, 59, 60 và Điều 61 Dự thảo.

Do ý kiến đại biểu còn khác nhau, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã lấy phiếu xin ý kiến các đại biểu Quốc hội. Kết quả như sau: có 66,39% ý kiến đại biểu Quốc hội trên tổng số đại biểu Quốc hội tán thành quy định các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Có 12,55% ý kiến đại biểu Quốc hội trên tổng số đại biểu Quốc hội đề nghị không quy định các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.

Tiếp thu đa số ý kiến đại biểu Quốc hội và để bảo đảm thực hiện tốt quyền con người, quyền công dân, tránh lạm dụng trong thực tiễn áp dụng; đồng thời tạo điều kiện cho Cơ quan điều tra chủ động thu thập chứng cứ, đấu tranh hiệu quả với các tội phạm có tổ chức, phức tạp về ma túy, rửa tiền, tham nhũng, khủng bố trong tình hình hiện nay, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Quốc hội cho giữ quy định của dự thảo về các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt như trong Dự thảo.

Ngoài ra, Bộ luật còn có các nội dung đáng chú ý như mở rộng việc chỉ định người bào chữa đối với“bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình”, biện pháp điều tra tố tụng hình sự đặc biệt, trình tự xét hỏi tại phiên tòa và về thời hạn tạm giam.

Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2016.

THÁI AN

 

Liên kết Website
Thống kê truy cập
  • Đang Online: 53
  • Trong tuần: 3474
  • Trong tháng: 9241
  • Tổng lượt truy cập: 935881